Thực trạng:
Các nguồn thải nuôi tôm có thể gây ô nhiễm môi trường và làm cho hệ thống canh tác thủy sản kém bền vững qua điều tra khảo sát và đánh giá cho thấy một số nguồn như sau:
Quá trình thay nước theo chu kỳ con nước của quá trình nuôi tôm diễn ra định kỳ với lượng nước thải thải ra rồi thay bằng nguồn nước cấp vào tùy theo các quy trình của các mô hình nuôi có thể đạt tới 30% - 70% lượng nước nuôi tôm trong vuông tôm. Lượng nước này thường không được các chủ vuông tôm quan tâm xử lý trước lúc thải ra môi trường sông rạch mà trong đó tiền ẩn rất nhiều rũi ro của dịch bệnh trong vuông nuôi tôm lan truyền cho cả khu vực. Đặc biệt là nếu đây là nguồn nước ở các vuông tôm đã bị nhiễm bệnh thì vấn đề thật hết sức nguy hiểm cho những chủ hộ nuôi tôm khác trong khu vực khi phải lấy nước sông rạch vào vuông nuôi tôm của mình.
Quá trình tháo xả nước khi thu hoạch tôm nuôi vào cuối vụ nuôi với lượng nước thải nuôi tôm thải ra khá triệt để, nhằm thu hoạch tôm nuôi, vệ sinh vuông nuôi tôm được thải ra môi trường sông rạch mà hiện nay chưa được quản lý cũng như xử lý triệt để theo yêu cầu bảo vệ môi trường cho cho cả hệ thống nuôi tôm ven biển. Nguồn thải này hết sức nguy hiểm mà trong đó tiềm ẩn các nguy cơ lan truyền dịch bệnh và ô nhiễm môi trường, đặc biệt nghiêm trọng hơn, khi các vuông tôm có dịch bệnh tôm chết phải thu hoạch tôm khẩn cấp.
Bùn thải nuôi tôm là nguồn chất thải lắng đọng xuống vuông nuôi tôm, là một nguồn thải vô cùng nguy hiểm cho vấn đề lan truyền dịch bệnh và ô nhiễm môi trường. Sau 3-4 tháng lớp bùn lắng này trên các vuông, đầm nuôi tôm có thể dày 29 đến 10-30cm phủ khắp tầng đáy diện tích nuôi tôm. Một số kết quả nghiên cứu thành phần bùn thải nuôi tôm đã cho thấy thành phần hết sức phức tạp, bao gồm các chất thải của nuôi tôm, các nguồn thức ăn dư thừa thối rữa phân hủy, các chất tồn dư của vật tư hóa chất sử dụng trong quá trình nuôi tôm như vôi, hóa chất, lưu huỳnh, lắng đọng bùn phèn trong đất chứa các độc tố môi trường, những vi khuẩn gây bệnh nuôi tôm, tảo lộc và nấm bệnh, và đặc biệt là các sản phẩm phân hủy của quá trình yếm khí như amoniac, H2S, CH4 là các tác nhân gây hại vô cùng nguy hiểm cho con tôm.
Quan trắc môi trường nước trên sông rạch đã cho thấy rõ nét với độ đục của nước sông rạch tăng đột biến so với bình thường, có nơi độ đục tăng cao lên đến 800-900mg/l. Số liệu đánh giá bước đầu ở Cà Mau cho thấy nguồn thải này hiện nay chưa được xử lý vẫn được các chủ vuông tôm thải thẳng ra sông rạch trong vùng. Năm 1999 tổng lượng bùn thải nuôi tôm trong toàn tỉnh khoảng 90 triệu m khối, năm 2001 đã là 217 triệu m khối, và đến năm 2003 đã là 248 triệu m khối, đã cho thấy đây là một nguồn thải vô cùng lớn có thể gây nên các tổn thất lớn cho nghề nuôi tôm ở Cà Mau.
Chỉ trong khoảng thời gian 2000 đến 2003 trong phạm vi tỉnh Cà Mau đã đào đắp tăng thêm 94.655 ha diện tích nuôi tôm, với quá trình thoát phèn ra khu vực là rất lớn. Khi đo đạc số liệu hàm lượng sắt môn trường nước luôn luôn vượt tiêu chuẩn cho phép TCVN 5943- 1995 về nước nuôi trồng thủy sản nhiều lần. Đặc bệit khi đào đắp vuông tôm và sên vét bùn cặn bằng thiết bị khuấy bùn lỏng rồi bơm thải ra sông rạch đã làm ô nhiễm rất lớn chất lượng nước trên sông rạch đồng thời gây nên quá trình bồi tụ sa lắng bùn thải ở các vùng giáp nước trên sông hoặc đầm trũng. Năm 2002, trên địa bàn toàn tỉnh Cà Mau đã có đến 63.385 ha nuôi tôm bị dịch bệnh hoành hành, sang năm 2003, diễn biến tôm chết và dịch bệnh tiếp tục phát sinh trên diện rộng có khoảng 50-60% diện tích nuôi tôm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến đời sống người nuôi tôm.
Biện pháp:
Để bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm ven biển, theo chúng tôi, cần nhanh chóng thực thi áp dụng các giải pháp sau đây:
1. Tăng cường mạnh mẽ vai trò quản lý nhà nước của các ngành các cấp và chính quyền địa phương về bảo vệ môi trường. Các dự án đầu tư quy hoạch sản xuất nuôi trồng thủy sản, các dự án nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp, thâm canh, nuôi tôm luân canh lúa - tôm ... cần phải thực thi quy trình lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường theo đúng qui định của luật bảo vệ môi trường. Điều rất đáng quan tâm là hiện nay là các dự án ở vùng ven biển rất ít quan tâm và thực thi nhiệm vụ này.
2. Các cấp chính quyền địa phương cần kiên quyết xử lý triệt để các trường hợp cố tình xả bùn thải nuôi trồng thủy sản ra môi trường nước mà chưa xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường quy định. Tăng cường công tác quản lý giám sát các hoạt động đào đắp vuông tôm, sên vét bùn thải vuông nuôi trồng thủy sản, vuông tôm, nạo vét sông rạch hay đào đắp công trình thủy lợi cho nuôi trồng thủy sản ... để bắt buộc áp dụng các biện pháp cách ly bùn thải, khử phèn và các chất độc hại, lắng trong tách cặn và khử trùng dịch bệnh trước lúc thải nước vào sông rạch công cộng. Bênh cạnh đó càng tăng cường các biện pháp giám sát, quan trắc và dự báo chất lượng môi trường để kịp thời ứng cứu khi có sự cố môi trường xảy ra.
3. Trong thiết kế quy hoạch các khu nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, cũng như các mô hình nuôi tôm qui mô lớn khác ... cần nhanh chóng nghiê cứu bố trí hợp lý diện tích đất đai để đầu tư hệ thống lắng và xử lý nước thải nuôi tôm, hệ thống xử lý khử trùng và cách ly các nguồn bùn thải nuôi tôm độc hại và dễ lây nhiễm dịch bệnh, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường qui định, nhằm triệt để an toàn sản xuất nuôi trồng thủy sản và đặc biệt là nuôi tôm.
4. Khi tổ chức sên vét bùn thải nuôi tôm hoặc đào vuông nuôi mới, nhất thiết phải thiết kế bố trí diện tích cần thiết đủ sức để chứa cách ly nguồn bùn thải và lắng trong, tách bùn trước khi thải ra sông rạch. Bùn thải được cách ly này phải được xử lý và khử trùng, khử lý phèn hóa và các độc tố môi trường bằng các hóa chất như vôi bột, Dolomite, Diatomile, hoặc các chất khử trùng diệt khuẩn ... một thời gian đảm bảo tiêu chuẩn môi trường mới thả ra sông rạch trong khu vực. Làm như thế sẽ có tác động hữu hiệu, khử phèn trong đất và bùn thải, khử các chất độc môi trường, diệt khuẩn và ngăn ngừa dịch bệnh phát sinh, đồng thời lắng trong nước thải không gây sa lắng bùn thải trên sông rạch hay đầm trũng. Hơn nữa cần phát huy mạnh mẽ vai trò xã hội hóa trong công tác bảo vệ môi trường người nuôi tôm.